VN EN
Thư viện
Babushka Hood
Babushka Hood
Babushka Hood là chiếc khăn choàng của phụ nữ. Thông thường, Badbuska Hood có hình tam giác, buộc lại ở dưới cằm (giống như búp bê Nga). Chất liệu vải đa dạng từ lụa đến plastic, và có phần "hood" (mũ) trùm lên trên đỉnh đầu.
Bar Fagoting
Bar Fagoting
Fagoting là một kỹ thuật thêu bắt chéo, có thể thêu bằng tay hoặc sự dụng máy chuyên dụng. Mục đích của nó là để trang trí khoảng trống giữa hai mép vải đã được hoàn thành. Bar Fagotting là kỹ thuật thêu đơn giản nhất.
Bar jacket
Bar jacket
Bar jacket là kiểu jacket mang tính biểu tượng được thiết kế bởi Christian Dior cho "Ligne Corolle" của ông ấy vào năm 1947 từ show diễn nổi tiếng mà Carmel Snow gọi là "The New Look". Chiếc jacket này có hình dáng mềm mại, với vai tròn nghiêng, eo nhỏ và đệm ở hông. Nó được xem là một biểu tượng của nhà mốt này.
Basting
Basting
May lược chỉ (basting) là một giai đoạn chuẩn bị quan trọng. May lược chỉ tức là may chỉ dài, lỏng để đánh dấu và tạm cố định các chất liệu trên trang phục vào vị trí cuối cùng của nó. Khi thử mẫu trước khi may, cách may lược chỉ này chuyên nghiệp và thoải mái hơn nhiều so với việc dùng kim đánh dấu.
Batwing
Batwing
Tay áo cánh dơi còn được biết đến với cái tên tay áo "Dolman" hay "Magyar". Tay áo dài, cắt rộng ở vai với vòng nách sâu, khiến cổ tay áo thon và mỏng, tạo cảm giác giống như đôi cánh. Kiểu tay áo này lấy cảm hứng từ y phục thời trung cổ: giống chiếc áo choàng rộng với tay áo được gấp từ vải. Áo cánh dơi không phổ biến trong thế chiến I và II vì chính sách tiết kiệm vải cho chiến tranh. Nó quay trở lại vào những năm 1940 với phong trào nữ tính, sau được đổi tên thành Tay áo cánh dơi vào những năm 80 nhờ Madonna.
Bias cut
Bias cut
Bias cut có nghĩa là “cắt trên sớ vải - chiều xéo”. Đây là thuật ngữ chỉ kỹ thuật cắt xéo vải. Thay vì dựa theo hướng dệt thẳng, thợ cắt sẽ đặt rập nghiêng một góc 45o trên vải rồi cắt (cắt xéo so với đường biên vải). Tại góc độ này, các đường dệt sẽ giúp vải có “độ co dãn” mềm mại, làm nổi bật đường nét cơ thể, tạo nên những đường cong rủ uyển chuyển hay đường xếp nếp mềm mại. Kỹ thuật này được thành tựu vào những năm 1920s bởi Madeleine Vionnet và trở thành phong cách tiêu biểu của John Galliano sau này.
Bolero
Bolero
Đây là từ chỉ loại áo jacket lửng với độ dài nhất chỉ chạm eo, để mở ở thân trước và không có cổ áo. Bolero bắt nguồn từ Tây Ban Nha, giống như loại nhạc Bolero vậy. Trước thế kỷ thứ 19, nó thường được gọi là Zouave. Mặc dù đặc điểm hai loại áo jacket này tương tự nhau, Zouave chịu ảnh hưởng của quân đội nhiều hơn, trong khi Bolero lại được truyền cảm hứng bởi các điệu nhảy và thậm chí là dũng sĩ đấu bò, Ole!
Box Jacket
Box Jacket
Box Jacket (hay còn có tên gọi khác là Box Coat – áo khoác hộp) có phom dáng thẳng, không ôm lưng mà được thả suông rộng từ vai. Nó được phát triển từ áo khoác ngoài của đàn ông (coachman’s heavy overcoat), và trở thành một biểu tượng địa vị trong những năm 1980. Kể từ đó, nó trở thành một trong những style không thể thiếu trong tủ quần áo của những nữ chính trị gia và lãnh đạo.
Braiding
Braiding
Braiding phiên bản phục trang sẽ không quá khác biệt phiên bản tóc tết đuôi sam mà nó trùng tên. Braiding chỉ những đường diềm trang trí, hoặc hoạ tiết thêu dùng để tô điểm đường viền chân váy, hoặc tạo hoạ tiết cho trang phục.
Bustle
Bustle
Bustle là từ chỉ phần đệm thêm sau váy của phụ nữ, có thể được may hẳn vào váy hoặc mặc riêng dưới váy. Nó có thể làm bằng vải xếp nếp tạo khối, hoặc dùng nhiều lớp vải chồng lên nhau để tăng sự quyến rũ khi nhìn từ phía sau của phái nữ. Bustle phổ biến ở thời Victoria - khi mà corset và khung váy phồng vẫn được mặc phổ biến - và được thêm từ phía dưới eo. Nó có thể được trang trí thêm nơ và dây ruy băng mặc dù mục đích ban đầu khá là thực dụng – kéo váy về phía sau và tránh để chạm vào bùn.